
Làng Văn Lâm có tự bao giờ?
Làng Văn Lâm nay thuộc xã Lâm Trung Thuỷ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. Làng hiện nay có hai thôn là Đồng Thanh Lâm và Đức Hương Quang. Dân số của làng hơn 3500 người với diện tích khoảng 150 ha. Nghề chính của người dân là trồng lúa (trước kia có thêm nghề trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải), là vùng đất cày sâu cuốc bẫm, dưa muối nhút cà nhưng là vùng văn hoá dân gian phong phú. Làng có đền làng, chùa, các nhà thờ họ quanh năm thờ phụng thâm nghiêm.
![]() |
| Toàn cảnh làng Văn Lâm ngày nay (nhìn từ trên cao xuống) - ảnh Khắc Lộc |
1. Lịch sử hình thành
Làng Văn Lâm xưa kia thuộc xã Hoa Lâm, huyện La Sơn (sau là Đức Thọ), được hình thành từ rất sớm. Khi các dòng họ về đây lập nghiệp thì đã có làng rồi. Nhưng làng được thành lập từ khi nào thì chưa có tài liệu ghi chính xác, theo các cụ cao niên truyền lại thì có 2 giả thuyết về sự ra đời của làng.
Giả thuyết thứ nhất:
Theo một số tư liệu lịch sử cũng như một số tư liệu dân gian thì thời nhà Lý bắt đầu từ Lý Công Uẩn đã không ngừng việc mở mang, khai phá vùng đất Nghệ Tĩnh, nơi mà họ coi là “tiền đồn, phên dậu” phía nam Đại Việt. Cụ thể vào năm 1041, xét thấy Lý Nhật Quang (con trai thứ 8 của vua Lý Thái Tổ) là người tin cẩn, Lý Thái Tông phong ông làm Tri châu Nghệ An - tước hiệu là Uy Minh hầu. Trong thời gian làm Tri châu tại đây, ông đã cho khai phá các vùng đất ven sông La và ven núi Hồng Lĩnh, mở mang được nhiều trang trại. Những công trình khai hoang đó đã biến nhiều vùng đất hoang vu, đồi núi, bãi bồi ven sông, ven biển thành làng, thành xóm, thành đồng ruộng xanh tươi trong đó có vùng đất Cổ Ngu.
Cổ Ngu (là tên chữ phiên âm hai tiếng Kẻ Ngù, cùng với Kẻ Hồ, Trổ, Lim, Kẻ Chay, Bàu) xưa gồm có 4 thôn: Đông Khê, Thuỵ Vân, Trung Lễ và Thượng Ích thuộc tổng Văn Lâm, huyện La Sơn, phủ Đức Quang (sau đổi là phủ Đức Thọ). Trên vùng đất này các dòng họ về đây lập nghiệp đầu tiên là: họ Đinh (Đông Khê); họ Trần, họ Đoàn (Trung Lễ); các dòng họ khác như họ Phan, Lê, Hồ, Phạm, Trần,… từ đời Trần, Lê về sau mới đến đây lập nghiệp.
Làng Văn Lâm được hình thành và phát triển sau các làng Đông Khê, Thuỵ Vân, Trung Lễ và Thượng Ích. Họ Trần (nhà thờ hiện nay ở gần nhà anh Trần Sỹ) là họ đầu tiên về đây lập nghiệp.
Theo giả thuyết này thì làng Văn Lâm được hình thành từ đời nhà Lý, người có công lập nên làng ta là Lý Nhật Quang.
Giả thuyết thứ hai:
Sau khi vua Trần Duệ Tông băng hà vào năm 1377 thì Hoàng hậu Bạch Ngọc lánh về quê (làng Bản Trí, xã Thổ Hoàng - nay thuộc xã Phương Mỹ, huyện Hương Khê). Bà đã khai hoang được nhiều đất đai vùng hạ Hương Khê (nay thuộc Vũ Quang, tây nam Đức Thọ), tây bắc Can Lộc và vùng Kẻ Ngù (tổng Văn Lâm cũ), trong đó có làng ta.
Theo giả thuyết này thì làng Văn Lâm được hình thành từ cuối đời nhà Trần, người có công lập nên làng ta là Hoàng hậu Bạch Ngọc.
2. Về tên gọi của làng
Đời Nhà Lê trong các sắc phong cho những người có công với triều đình có quê quán nay là làng Văn Xá và làng Văn Lâm đều ghi “xã Hoa Lâm, huyện La Sơn”.
Cụ thể như sắc phong Phấn lực Tướng quân cho ông Nguyễn Dung (ở Văn Xá), sắc phong Phấn lực Tướng quân cho ông Phan Trấn (ở Văn Lâm) vào năm 1783, đều ghi hai ông quê tại xã Hoa Lâm, huyện La Sơn.
Như vậy “Hoa Lâm” là tên xã. Sách Đức Thọ Đất và Người (trang 63) viết: “Xã Đức Lâm vào đời Lê có tên là Hoa Lâm, gồm có: làng Kẻ Bượm (nay là Văn Xá); làng Kẻ Sim (có thôn Sim Vải chuyên làm nghề trồng bông, dệt vải và thôn Sim Lụa chuyên trồng dâu, nuôi tằm, sau gọi là Văn Lâm); làng Thụy Lâm (sau là Ngọc Lâm) và làng Thượng Ích.
Sách Địa chí huyện Đức Thọ (trang 537) viết: “Xã Đức Lâm đời Lê, là xã Hoa Lâm bao gồm Kẻ Bượm (nay là Văn Xá), Kẻ Sim (thôn Tiền và thôn Hậu sau là Văn Lâm), làng Thuỵ Lâm sau là Ngọc Lâm và làng Thượng Ích”.
Đến đầu Nhà Nguyễn chia lại đơn vị hành chính bỏ đơn vị hành chính cấp “xã”, lấy “thôn” làm đơn vị hành chính cơ sở; thôn lên tổng, huyện, phủ, tỉnh.
Xã Hoa Lâm sáp nhập với các xã: Cổ Ngu (Đông Khê, Thụy Vân, Trung Lễ, Thượng Ích); Thanh Lạng (Đức Thanh); Quang Chiêm (Thái Yên, Đức Thịnh); Tân An (Đức Dũng, Đức An) thành tổng Hoa Lâm.
Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), tổng Hoa Lâm đổi tên thành tổng Văn Lâm. Lí do tránh tên kỵ (huý) của bà phi tần Hồ Thị Hoa (vợ vua Minh Mạng, mẹ của vua Thiệu Trị). Cùng thời gian này các địa danh, tên đơn vị hành chính,… có từ “Hoa” đều phải đổi thành tên khác như: huyện Kỳ Hoa thành Kỳ Anh, huyện Hoa Xuyên thành Cẩm Xuyên,…
Sau đó tổng Văn Lâm lại tách ra thành các xã: Văn Lâm (Văn Xá, Tiền Hậu, Ngọc Lâm); Cổ Ngu (Đông Khê, Thụy Vân, Trung Lễ, Thượng Ích); Tân Thanh (Thái Yên, Thanh Lạng); Đồng Quang (Đức Thịnh); Đức Dũng và Đức An.
Năm 1948, xã Văn Lâm sáp nhập với xã Cổ Ngu thành xã Ngu Lâm.
Năm 1954, xã Ngu Lâm tách thành 3 xã: Đức Lâm, Đức Trung, Đức Thủy (giai đoạn này tên của 40 xã của huyện Đức Thọ đều bắt đầu bằng chữ Đức). Xã Đức Lâm thời kỳ này có 3 làng là: Văn Lâm, Ngọc Lâm, Thượng Ích.
Năm 2020, xã Đức Lâm, Đức Trung, Đức Thủy sáp nhập thành xã Lâm Trung Thủy.
Tên làng “Văn Lâm” có từ khi nào?
Các cụ cao niên trong làng kể lại rằng, làng Văn Lâm ngày nay được hình thành bắt đầu từ một số ít hộ dân cư trú tại xóm Thụy (có nghĩa là xóm đẹp) - khu vực gần đền làng bây giờ, đây là vùng đất cao ráo (có thể ngày đó vùng đất này là một quả đồi hay là một ngọn núi nhỏ). Dòng họ đầu tiên về đây lập nghiệp là họ Trần (con cháu ngày nay có Trần Tịnh, Trần Niệm,...), sau đó các dòng họ khác mới về đây.
Gia phả họ Phan ghi: “Các tổ tiên ta ở Thuỵ Vân về từ năm 1648 (nay là Tường Vân, Đức Thuỷ), chỗ ở đầu tiên là xóm Thuỵ dần dần phát triển lên xóm Thộ”.
Như vậy, điểm cư dân đầu tiên của làng là ở xóm Thụy, sau đó phát triển thành 2 xóm (xóm Thụy và xóm Thộ).
![]() |
| Xóm Thuỵ ngày nay - ảnh Khắc Lộc |
Theo các tài liệu ở trên thì làng Văn Lâm theo từng giai đoạn lịch sử có các tên gọi là:
* Kẻ Sim: Tên làng được đặt theo tên cây, có thể ngày xưa vùng đất của làng có nhiều cây Sim mọc. Cách gọi tên này rất phổ dụng như: sông Trúc (con sông nhỏ chảy trước Đền Voi Mẹt ngày xưa có nhiều cây Trúc).
* Tiền Hậu: Tên làng được ghép từ tên hai thôn, là thôn Tiền và thôn Hậu (thôn Hậu là xóm Thụy, thôn Tiền là xóm Thộ). Cách đặt tên này được nhiều địa phương dùng như thôn Tiền và thôn Hậu ở Đức Dũng.
* Văn Lâm: Theo các tài liệu trên thì “Kẻ Sim, Tiền Hậu sau đó gọi là Văn Lâm”. Vậy “sau đó” là lúc nào?
Bản đồ huyện Đức Thọ năm 1905 có ghi rõ tên xã Văn Lâm, thôn Tiền Hậu.
![]() |
| Bản đồ huyện Đức Thọ năm 1905 |
Trong lời tựa Gia phả họ Nguyễn Bá do cụ Nguyễn Phan Mạo (đời thứ 6) biên soạn thì năm 1941, làng Văn Lâm có tên là thôn Tiền Hậu. Cụ thể, cụ viết: “Hà Tĩnh tỉnh, Đức Thọ phủ, La Sơn huyện, Văn Lâm xã, Tiền Hậu thôn. Nguyễn Bá Tộc phổ chi tự ngày 17 tháng 12 năm Tân Tỵ (1941) - Bảo Đại năm thứ 16”.
Từ các cứ liệu trên, theo chúng tôi, tên làng “Văn Lâm” có từ năm 1948, khi xã Văn Lâm sáp nhập với xã Cổ Ngu thành xã Ngu Lâm.Tên làng mới đặt theo tên xã cũ Văn Lâm thay cho tên Tiền Hậu.
Cái tên “Văn Lâm” thật đẹp, thật ý nghĩa, theo các cụ giải thích: Văn Lâm có nghĩa là “rừng Văn” - trọng chữ nghĩa.
Làng Văn Lâm (Kẻ Sim, Tiền Hậu) theo từng giai đoạn lịch sử thuộc xã Hoa Lâm (thời Trần, Lê); tổng Hoa Lâm, Văn Lâm (thời Nguyễn); xã Văn Lâm (sau tháng 8/1945); xã Ngu Lâm (sau 1948); xã Đức Lâm (sau 1954); xã Lâm Trung Thủy (sau 2019).
Như vậy tính từ năm 1841 (đời vua Thiệu Trị) đến nay vừa tròn 183 năm danh xưng “Hoa Lâm” nhường lại tên mình cho “Văn Lâm” để lên chuyến xe đi về quá khứ, khép lại một thời kỳ vàng son, hào hùng của ngày đầu “mang gươm mở cõi”, xây dựng và phát triển.
Hôm nay, danh xưng “Văn Lâm” vẫn còn nhưng chỉ là tên làng, không phải là tên đơn vị hành chính (hiện nay đơn vị hành chính chỉ có thôn, xã, huyện, tỉnh). Và cái tên “Văn Lâm” luôn được các thế hệ con cháu làng Văn tự hào và nhắc nhớ cùng với một nỗi nhớ mang mác,... nỗi nhớ “Hoa Lâm”.
Văn Lâm, ngày 05/3/2024
Phan Duy Nghĩa
Phan Duy Nghĩa @ 10:06 19/04/2024
Số lượt xem: 91



